Results 1 to 3 of 3
  1. #1
    Join Date
    Feb 2012
    Location
    THIÊN ĐÌNH
    Posts
    3,773
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    0

    Lightbulb LUẬT làm THƠ

    LUẬT LÀM THƠ






    I. QUY TẮC LÀM THƠ


    1/ TIẾNG BẰNG-TIẾNG TRẮC

    Trong tiếng Việt, Tiếng BẰNG là những tiếng có giọng êm dịu và có thể đọc kéo dài ra được như chữ không có dấu gọi là giọng bằng cao và chữ có dấu huyền gọi là giọng bằng thấp .

    Tiếng TRẮC là những tiếng có giọng ngắn ngủn , không đọc dài ra được, như những tiếng có chữ C , CH , P , T đứng ở cuối tiếng và những tiếng có dấu sắc, ngã , hỏi, nặng .

    Vì âm hưởng tiếng Bằng và tiếng Trắc , khác nhau như thế cho nên phải xếp những tiếng ấy cho khéo thì mới tạo thành ra một thứ âm điệu nghe hay và dễ đọc . Nếu không , thì đọc lên sẽ sượng và nghe chướng tai

    2/ TIẾNG BỔNG-TIẾNG TRẦM

    Trong những tiếng BẰNG và tiếng TRẮC , tiếng nào cũng có thứ tiếng BỔNG và tiếng TRẦM .

    Tiếng BỔNG trong tiếng Bằng là những tiếng KHÔNG có dấu huyền

    Ví dụ: chữ La

    Tiếng TRẦM là những tiếng Có dấu huyền .

    Ví dụ: chữ Là

    Khi ta đọc chữ La và chữ Là tuy hai chữ cùng là tiếng bằng, song hai chữ đó có âm giọng khác nhau, chữ Là nghe thấp giọng hơn chữ La


    Tiếng BỔNG trong tiếng Trắc là những tiếng có dấu sắc và dấu ngã

    Ví dụ: Lá , Lã

    Tiếng TRẦM là những tiếng có dấu hỏi và dấu nặng

    Ví dụ: Lả , Lạ

    Nếu chúng ta biết sắp xếp đúng tiếng Trầm và tiếng Bổng thì bài thơ nghe du dương hơn .
    Dầu vậy khi làm thơ Lục Bát thì câu Bát chữ thứ 6 là tiếng Trầm thì chữ thứ 8 phải là tiếng Bổng
    Hoặc nếu trong câu bát chữ thứ 6 là tiếng Bổng thì chữ thứ 8 phải là tiếng Trầm, nói cho dễ hiểu hơn là

    Trong câu BÁT , chữ thứ 6 là KHÔNG DẤU thì chữ thứ 8 phải là dấu HUYỀN
    Nếu chữ thứ 6 la`dấu HUYỀN thì chữ thứ 8 phải là KHÔNG DẤU
    Đó là luật định cho câu thơ Lục Bát

    3/VẦN

    Làm thơ thì phải có vần thì đọc nghe êm và trôi chảy . VẦN nghĩa là tiếng này với tiếng kia có cùng âm-hưởng . Tiếng bằng vần với tiếng bằng , tiếng trắc vần với tiếng trắc, khi hai tiếng đồng một giọng phát âm thì thành vần được . Hai tiếng không đúng vần với nhau thì âm điệu sẽ lạc như vậy là trái luật thơ

    a) Những tiếng có chữ nguyên âm như : a , e , ê , i , o , ô , ơ , u , ư đứng ở cuối tiếng, thì theo tiếng bằng tiếng trắc mà vần với tiếng khác cũng có một chữ nguyên-âm đồng loại đứng ở cuối tiếng

    B) Những tiếng có chữ phụ âm như: c , ch , m , n , ng , nh , p , t đứng cuối tiếng, thì nhất định phải vần với tiếng khác cũng có phụ-âm đồng loại đứng ở cuối tiếng

    Vần chia ra làm hai loại : vần bằng và vần trắc .

    Vần bằng là những tiếng bằng vần với nhau, vần trắc là những tiếng trắc vần với nhau

    Mỗi loại vần ấy lại chia ra làm hai thứ vần, là vần chính và vần thông

    A/ Vần chính

    Vần chính của vần bằng - là những tiếng cùng đồng một âm vần với nhau như : ơ vần với ơ , ân vần với ân hay uôn vần với uôn

    Ví dụ:

    Hôm nay tôi học làm thơ
    Ðọc xong đường luật muốn mờ mắt luôn
    Khi làm thơ phải cho suôn
    Luật thơ Bằng Trắc vô khuôn Âm Vần



    Vần chính của vần trắc- là những tiếng cùng đồng một âm vần trắc với nhau như : ở vần với ở , ước vần với ước

    Ví dụ:

    Nhìn cúc tím vàng tươi chợt nở
    Giống tình anh mới trở cơn say

    Anh ở đó luôn chờ đợi ước
    Mùa Thu nào sẽ bước bên nhau


    B/ Vần thông

    Vần thông là những tiếng tuy không cùng một âm như các vần chính , nhưng có thể hợp để vần với nhau , do nơi sự vận dộng của môi và lưỡi khi phát âm nghe gần như giống nhau nên người ta gọi là vần thông
    Sau đây là những vần ta có thể thế vô cho vần để được linh hoạt hơn trong khi làm thơ .

    1/ Vần thông của vần bằng
    a) những vần thông có chữ nguyên-âm đứng ở cuối tiếng

    a, ơ --> thông với nhau được

    Vidụ :

    Vần thông ghép chữ như
    Đi chung được với chữ tờ này đây

    Ví dụ: ơ, ư

    Ơ Ư cũng dễ lắm
    Bây giờ bạn ráp chữ thư được mà

    Ví dụ: e, ê, i

    Nhờ E có nghĩa là nhe
    Gờ hÌ ta có ôm ghì đầu thôi

    có ai nhức đầu hong vậy ?

    Thêm câu hỏi cái chữ ?
    Vì vô đây học nhớ về vần thông

    Ví dụ: o, ô, u

    Hôm nay trời có mưa to
    Nhớ mở nắp hồ cho nước chảy (lục bát biến thể )
    Đầy rồi thì hứng thêm lu
    Phòng khi cúp nước khỏi lo sợ gì

    Ví dụ: ai, ay
    Mong rằng trời nắng ngày mai
    Bao nhiêu bạn đến hăng say làm bài

    ai, oi, ôi, ơi, ươi, ui
    ao, eo, êu, iêu, iu, ưu

    B) Những vần thông có phụ âm đứng cuối tiếng

    am, ơm --> đi chung với nhau được
    ăm, âm
    êm, im
    an, ơn
    ăn, ân, uân

    en, in, iên, uyên
    on, ôn, uôn
    on, un
    ang, ương --> nhưng không đi được với uông

    ăng, âng , ưng
    ong, ông, ung
    uông, ương
    anh, ênh, inh --> đi chung với nhau được

    2/ Vần thông của vần trắc

    é, ị --> đi chung với nhau được
    ổ, ũ
    ọ, ủa
    ĩa, uệ
    áo, iễu
    ói, ủi
    ác, ước
    ấc, ực
    ạm, ợm
    ặn, ẩn
    óng, úng
    ật, ắt
    ật, ứt
    út, uốt

    LƯU Ý

    1.- Trong sự gieo vần của tiếng Việt, có ba âm: a, ă, â ghép với một phụ-âm c, m, n, p, t thành một âm ghép như:

    ac, ăc, âc
    am, ăm, âm
    an, ăn, ân
    ap, ăp, âp
    at, ăt,ât

    những vần ghép ấy chỉ thông được với nhau khi có cùng một phụ âm đứng trên ví dụ:

    Bát thông được với bắt, bất mà không thông được với cắt , cất, mắt, mất
    Lam đi với lăm, lâm, nhưng không thông với băm, bâm, trăm, trâm
    Quan đi với quăn, quân, nhưng không thông với chăn, chân, nhăn, nhân v.v... Đó là do cách hiệp vận do âm-điệu điều-hoà mà thành lệ

    2.- Khi có vần ghép bằng hai hay ba chữ nguyên-âm với một phụ- âm đứng cuối như: iên, uyên, uân, uôn, thì người ta lấy hai chữ cuối cùng làm vận căn mà gieo vần, cho nên

    en, in vần với yên, uyên

    ân vần với uân

    ơn vần với oan

    on vần với uôn

    khi có vần ghép bằng hai chữ nguyên-âm với hai chữ phụ-âm như ương, thì người ta lấy ba chữ cuối cùng làm vận căn mà gieo vần, cho nên

    ang thông với ương

    uông thông với ương nhưng không thông với ang, vì a không thông được với ô

    3.- Khi có vần ghép bằng hai hay ba nguyên-âm thì người ta theo âm điệu mà lấy một hay hai chữ nguyên âm làm vận căn, như:

    oa, oe, uê, uy

    thì vận căn ở chữ a, e, ê, y, cho nên

    oa vần với a

    oe vần với e

    uê vần với ê

    uy vần với i

    uây vần với ây

    Những vần ia, uya, ua, ưa , thì vận căn lại ở chữ i, y, u, ư mà chữ a đứng ở cuối tiếng không có ảnh-hưởng gì cả .

    4.- Hai tiếng đồng âm và đồng nghĩa thì không vần được với nhau, song hai tiếng tuy đồng âm mà khác nghĩa, tức là hai tiếng khác nhau, thì vần với nhau được.

    (ST)

  2. #2
    Join Date
    Feb 2012
    Location
    THIÊN ĐÌNH
    Posts
    3,773
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    0

    Default Thể LỤC BÁT

    II. LỤC BÁT



    Thơ Lục Bát, còn được gọi là thơ "Sáu Tám", vì câu đi trước có 6 chữ, còn câu đi sau có 8 chữ. Cứ thế mà lập lại hoài cho tới khi nào tác giả muốn ngưng bài thơ. Thông thường, bài thơ Lục Bát dừng lại ở câu 8.

    1. Cách Gieo Vần
    Chữ cuối của câu trên (tức câu 6) phải vần với chữ thứ sáu của câu dưới (tức câu 8). Cứ mỗi hai câu thì đổi vần, và bao giờ cũng gieo vần bằng (còn gọi là bằng hoặc bình, tức có dấu huyền hoặc không dấu). Ký hiệu của bằng là B. Ðặc biệt chữ thứ tư của câu 6 và câu 8 và chữ thứ bảy của câu 8 luôn luôn được gieo ở vần trắc hay trắc (tức có dấu sắc, dấu hỏi, dấu ngã, hoặc dấu nặng). Ký hiệu của trắc là T. Chữ thứ sáu của câu 8 được gọi là yêu vận (vần lưng chừng câu), và chữ thứ 8 của câu tám được gọi là cước vận (vần cuối câu). Vận hay vần là tiếng đồng thanh với nhau. Gieo vần thì phải hiệp vận (tức cho đúng vận của nó). Ví dụ: hòn, non, mòn, con... Nếu gieo vần mưa với mây thì bị lạc vận. Còn nếu gieo vần không hiệp với nhau thì gọi là cưỡng vận. Ví dụ: tin đi với tiên.

    2. Luật Bằng Trắc
    Cách dùng mẫu tự và viết tắt như sau: B là Bằng, T là Trắc, V là Vần.

    Câu 6: B B T T B B
    Câu 8: B B T T B B T B

    Ví dụ:
    Câu 6: Trăm năm | trong cõi | người ta
    Câu 8: Chữ tài | chữ mệnh | khéo | ghét nhau
    Câu 6: Trải qua | một cuộc | bể dâu
    Câu 8: Những điều | trông thấy | mà đau | đớn lòng
    (Kiều)

    Ghi chú: Chữ là và đau là yêu vận (tức là vần đặt ở trong câu); chữ nhau và lòng là cước vận (tức là vần đặt ở cuối câu). Chữ thứ 6 của câu 6 (ta) hiệp vận (V) với chữ thứ 6 của câu 8 (là), chữ thứ 8 (nhau) của câu 8 hiệp vận (V) với chữ thứ 6 (dâu) của câu 6, chữ thứ 6 (dâu) của câu 6 hiệp vận (V) với chữ thứ 6 (đau) của câu 8.

    Biệt lệ
    Tuy luật bằng trắc đã qui định như ở trên, nhưng những chữ thứ 1, thứ 3 và thứ 5 nếu không theo đúng luật thì cũng không sao. Cái biệt lệ ấy được gọi là "nhất, tam, ngũ bất luận", có nghĩa là chữ thứ 1, chữ thứ 3 và chữ thứ 5 không kể (bất luận), tức không nhất thiết phải theo đúng luật. Còn các chữ thứ 2, chữ thứ 4, và chữ thứ 6 bắt buộc phải theo đúng luật (phân minh), do câu "nhì, tứ, lục phân minh".
    Ví dụ:
    Trăm năm trong cõi người ta (Kiều)
    (Ghi chú: chữ thứ 3 (trong) đáng lẽ thuộc vần Trắc, nhưng lại đổi thành vần Bằng).
    Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau (Kiều)
    (Ghi chú: chữ thứ 1 (Chữ) và thứ 5 (khéo) đáng lẽ thuộc vần Bằng, nhưng lại đổi thành vần Trắc).

    3. Thanh
    Thanh gồm có Trầm Bình Thanh và Phù Bình Thanh. Trầm Bình Thanh là những tiếng hay chữ có dấu huyền. Ví dụ: là, lòng, phòng... Phù Bình Thanh là những tiếng hay chữ không có dấu. Ví dụ: nhau, đau, mau... Trong câu 8, hai chữ thứ 6 và thứ 8 luôn luôn ở vần Bằng, nhưng không được có cùng một thanh. Có như thế, âm điệu mới êm ái và dễ nghe. Nếu chữ thứ 6 thuộc Phù Bình Thanh thì chữ thứ 8 phải thuộc Trầm Bình Thanh, và ngược lại.
    Ví dụ:
    Chữ tài chữ mệnh khéo ghét nhau.
    (Ghi chú: là thuộc Trầm Bình Thanh, nhau thuộc Phù Bình Thanh).
    Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
    (Ghi chú: đau thuộc Phù Bình Thanh, lòng thuộc Trầm Bình Thanh).

    4. Phá Luật
    Thỉnh thoảng chúng ta bắt gặp người làm thơ thích phá luật ở chữ thứ hai câu 6, thay vì vần bằng thì lại đổi ra vần trắc; còn chữ thứ tư thì có khi đổi thành vần bằng thay vì vần trắc như thường lệ. Câu 6 cũng được ngắt ra làm hai vế.
    Ví dụ: Mai cốt cách | tuyết tinh thần (B T T T B
    Mỗi người | một vẻ | mười phân | vẹn mười (T B T T B B T
    (Kiều)
    Ðau đớn thay | phận đàn bà (B T B T B
    (Kiều)
    Khi tựa gối | khi cúi đầu (B T T B T
    (Kiều)
    Ðồ tế nhuyễn | của riêng tây (B T T T B
    Sạch sành sanh vét | cho đầy túi tham (T B B T B B T
    (Kiều)

    Biến Thể Lục Bát
    Biến Thể Lục Bát là thể văn biến đổi ở cách gieo vần.

    Ví dụ:
    Câu 6: Vừa ra đến chợ một khi
    Câu 8: Thấy rồng che phủ tứ vi một người
    Câu 6: Nguyên nàng số lý nghề nòi
    Câu 8: Dưới đất trên trời thuộc hết mọi phương (T T B B T T TB)
    (Truyện Lý Công )
    Chú thích: Câu tám thứ hai vừa phá luật vừa biến thể. Chữ thứ tư (trời) của câu 8 lại vần với chữ thứ sáu (nòi) của câu 6.
    Hoặc:
    Câu 6: Khoan khoan chân bước bên đường
    Câu 8: Thấy chàng họ Lý ngồi đương ăn mày
    Câu 6: Ðầu thời đội nón cỏ may
    Câu 8: Mặt võ mình gầy cầm sách giờ lâu (T T B B B T B
    (Truyện Lý Công)
    Chú thích: Câu tám thứ hai vừa phá luật vừa biến thể. Chữ thứ tư (gầy) của câu 8 lại vần với chữ thứ sáu (may) của câu 6.


    ***


    Trên đây là một số niêm luật căn bản của thơ Lục Bát. Làm thơ Lục Bát tuy dễ mà khó. Cái khó là ở cách gieo vần, làm sao đừng cho bị lạc vận hoặc cưỡng vận. Một bài thơ hay mà bị lạc vận hoặc cưỡng vận thì sẽ làm hỏng cả bài thơ, cũng giống như một con sâu làm hỏng cả nồi canh ngon vậy!

    Người viết sẽ nêu một vài ví dụ điển hình để bạn thấy những khuyết điểm nho nhỏ mà người làm thơ không để ý tới, có thể vì chưa nắm vững niêm luật hoặc cũng có thể vì coi thường niêm luật. Sự không hiệp vận ấy gọi là cưỡng vận hay ép vận (tin đi với tiên) và lạc vận (mưa đi với mây).

    Ví dụ:
    Nhớ xuân lửa đạn rừng đồi
    Nhớ đêm không ngủ cuối trời Việt Nam
    Bây giờ mượn chút thời gian
    Chia cho hiện tại để làm quà Xuân

    Chú thích:
    đồi đi với trời là Cưỡng vận (đồi với trời thuộc Vần Thông,1 chỉ hợp về Thanh chứ không hợp về Âm).
    Nam đi với gian là Lạc vận (Nam và gian không thuộc Vần Chính 2 và Vần Thông).
    gian đi với làm là Lạc vận (gian và làm không thuộc Vần Chính và Vần Thông).

    Nhớ mi quầng biệt Quỳnh Côi
    Nhớ hương bồ kết nhớ người mẹ quê
    Chú thích:
    Côi đi với người là Lạc vận (Côi và người không thuộc Vần Chính và Vần Thông).

    Nhớ em phụng phịu: trời mưa
    Giao thừa chẳng được vui đùa với nhau
    Chú thích:
    Mưa đi với đùa là Cưỡng vận (mưa và đùa thuộc Vần Thông, chỉ hợp về Thanh chứ không hợp về Âm).

    Có người hôm ấy chải đầu
    Vô tình tóc cứ bay vào vai ta
    Chú thích:
    đầu đi với vào là Lạc vận (đầu và vào không thuộc Vần Chính và Vần Thông).


    Vẫn không gian ấy bão bùng
    Hay mồ hôi tưới trên thung lũng cằn
    Bây giờ ngồi giữa thế gian
    So giây ướm thử mấy gam giao mùa

    Chú thích:
    cằn đi với gian là Lạc vận (cằn và gian không thuộc Vần Chính và Vần Thông).
    gian đi với gam là Lạc vận (gian và gam không thuộc Vần Chính và Vần Thông).

    Gió thơm từ thuở hoàng hôn
    Theo chân ánh sáng về ôm ngang trời
    Chú thích:
    hôn đi với ôm là Lạc vận (hôn và ôm không thuộc Vần Chính và Vần Thông).

    Rừng Xuân hoa lá êm đềm
    Có người thơ thẩn đi tìm phong lan
    Chú thích:
    đềm đi với tìm là Lạc vận (đềm và tìm không thuộc Vần Chính và Vần Thông).

    1 Vần Thông là những vần chỉ hợp nhau về thanh, còn âm thì tương tự chớ không hợp hẳn.
    2 Vần Chính là những vần mà cả thanh lẫn âm đều hợp nhau.


    (ST)

  3. #3
    Join Date
    Feb 2012
    Location
    THIÊN ĐÌNH
    Posts
    3,773
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    0

    Default Thể SONG THẤT LỤC BÁT

    III. SONG THẤT LỤC BÁT



    Song Thất Lục Bát . Có 4 câu : hai câu đầu 7 chữ, câu thứ ba 6 chữ, câu cuối 8 chữ

    Luật Bằng trắc


    Luật

    x = Không qui luật ( Bằng hoặc Trắc cũng được )

    B = Bằng ( là những chữ không dấu hoặc có dấu huyền )

    T = Trắc ( là những chữ có dấu Sắc, Hỏi , Ngã , Nặng )T1= Vần Trắc ......T1 ( chữ thứ 7 ) của câu 1 phải vần với T1 ( chữ thứ 5 ) của câu 2 B2= Vần Bằng .....Chữ thứ 7 của câu 2 ..vần với chữ thứ 6 cuả câu 3 ......Chữ thứ 6 của câu 4 vần với chữ thứ 6 của câu 3

    Vần

    Chữ thứ 5 của câu 2 ( tháng ) vần với chữ thứ 7 của câu 1( ngán )

    Chữ cuối cùng của câu 3 ( ca ) vần với chữ cuối của câu 2 ( qua )

    Chữ thứ 6 của câu 4 ( xa ) vần với chữ cuối của câu 3 ( ca )

    Chú ý : Câu 3 và câu 4 làm theo thể thơ Lục Bát

    Âm Khúc

    Chia từng câu thành những khúc nhỏ ..... trong Song Thất Lục Bát chia câu số 1 thành hai khúc và dùng lời thơ để nhấn mạnh từng khúc :

    Câu 1 :
    Đông đã đến / bao mùa ngao ngán

    Câu 2 :
    Nhớ thương người, / bao tháng năm qua

    Câu 3 :
    Phổ cầm / khúc tuyệt / tình ca

    Câu 4 :
    Nhỏ giòng / máu thắm / xót xa / đoạn trường

    ***

    Cũng như LỤC BÁT, SONG THẤT LỤC BÁT thường được dùng trong những truyện thơ, và là thể loại thứ hai của hai thể thơ "chính tông" trong Việt văn.

    Song Thất Lục Bát là loại thơ mở đầu bằng hai câu THẤT, rồi tiếp đến hai câu LỤC BÁT, tạo thành một KHỔ với ý từ trọn vẹn. (có nghĩa là trong 4 câu phải trọn vẹn một ý)

    Câu THẤT trên (câu số 1), tiếng thứ 3 là chữ TRẮC, tiếng thứ 5 là chữ BẰNG, và tiếng thứ 7 là chữ TRẮc và VẦN.

    Câu Thất dưới (câu số 2), tiếng thứ 3 là chữ BẰNG, tiếng thứ 5 là chữ TRẮC và VẦN với tiếng thứ 7 của câu trên, tiếng thứ 7 là chữ BẰNG và VẦN.

    ***Song Thất Lục Bát không giống như Thất Ngôn Luật theo lối Hán văn, vì luật BẰNG TRẮC được áp dụng trong Song Thất ở chữ thứ 3, thứ 5, mà trong Thất Ngôn Luật thì chữ thứ 3 và chữ thứ 5 lại có thể theo lệ BẤT LUẬN.

    Sau hai câu Thất là hai câu Lục Bát, theo luật của Lục Bát...chữ cuối của câu LỤC vần với chữ thứ 7 của câu THẤT thứ nhì):

    ĐIỀU NGOẠI LỆ:
    Thông thường chữ thứ 3 của câu Thất(1) là chữ TRẮC, nhưng trong trường hợp không có đối ở câu dưới, thì chữ thứ 3 của câu Thất trên có thể là chữ BẰNG.


    (ST)

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •